


☸ Thích Thanh Từ

Tất cả chúng ta có đủ phước duyên nên chọn được con đường của mình đang đi, một con đường thênh thang, tươi mát và an lạc. Nói như vậy có vẻ như chủ quan, nhưng sự thật nếu tất cả chúng ta đều một lòng hướng thẳng về sự tu hành, đi theo con đường Đức Phật đã dạy, thì mỗi bước đi là một bước an lành, mỗi bước đi là rơi rụng bao nhiêu đau khổ. Thế nên con đường tươi đẹp và mát mẻ chúng ta đang đi là tượng trưng cho mùa xuân...
Xuân đến, xuân đi ngỡ xuân hết. Thấy có xuân đến xuân đi vì chúng ta nhìn xuân qua bốn mùa của thời gian. Nhưng ở đây thiền sư không nói xuân của thời gian, mà nói xuân của tất cả người thoát khỏi cái sanh diệt của thời gian. Thường người đời thấy xuân qua ngỡ là xuân hết, song đối với người tu xuất thế thì xuân lúc nào cũng sẵn ở lòng mình, ngày nào tháng nào năm nào cũng là xuân, nhìn đâu cũng tươi đẹp, cũng an vui.
Nhưng trên thực tế, đối với chúng ta thì thế nào? Cũng có những ngày mây sầu ảm đạm, nhiều người lau nước mắt! Tuy vẫn là xuân nhưng vì mây mù bao phủ nên xuân bị khuất đi. Bây giờ chúng ta muốn mùa xuân tươi tắn hiện hữu thì phải vén đám mây mù ấy đi. Buông bỏ những phiền não điên đảo trong tâm tức là vén áng mây mù. Dùng trí tuệ Bát-nhã chiếu phá, biết những thứ đó không thật thì lưu giữ nó làm gì? Đó chính là tu tập, là việc bổn phận chính của người tu vậy.
Hoa nở, hoa tàn chỉ là xuân. Mùa xuân thấy hoa mai nở rồi sau đó hoa tàn, người đời cho rằng xuân tàn. Nhưng thiền sư mượn hoa để trả lời câu hỏi của thiền khách: “Khi sắc thân bại hoại thì thế nào?”. Hoa nở rồi tàn, sắc thân chúng ta cũng như hoa, sanh ra rồi già chết, không có lâu bền. Nhưng trong cái tạm bợ đó, vẫn có cái mãi mãi an lành tỉnh giác. Thiền sư mượn xuân để nói cái chân thật ấy. Nếu chúng ta khéo biết trở về cái chân thật của mình thì thân này còn hay mất chỉ là tạm bợ, còn cái chân thật lúc nào cũng thanh tịnh, sáng suốt. Trong kinh gọi đó là Pháp thân thanh tịnh, miên viễn không tan hoại.
Tất cả sự vật đều bị thời gian chi phối, có đó rồi hoại đó. Thân chúng ta cũng vậy, theo thời gian mà bại hoại. Nếu chúng ta không biết trở về với thể tánh chân thật của chính mình thì khi sắc thân bại hoại chúng ta đau khổ vô cùng. Chúng ta phải biết con người và muôn vật đều bị cuốn phăng theo dòng thời gian bất tận. Sự sống chết của người và vật đều ứng hợp theo thời tiết. Hoa nở, hoa tàn đều lệ thuộc vào mùa xuân. Nếu chúng ta cứ bám víu vào sắc thân và ngoại cảnh thì dòng luân hồi sanh tử lôi cuốn mình không biết đến đâu là cùng.
Cho nên người tu chúng ta phải gan dạ nhìn thẳng vào lẽ thật của bản thân của ngoại cảnh, thấy chúng là tướng tạm bợ vô thường, là giả hình bởi nhân duyên chung hợp. Người sống được với thể chân thật không sanh không diệt thì ngày nào cũng là xuân, lúc nào cũng là xuân. Thiền sư Chân Không thấy tất cả đều là xuân cho nên ngài sống an lạc. Nếu có ai đến hỏi đạo ngài đều diễn tả cái đẹp, cái an lành của chính lòng mình cho mọi người thấy và cảm thông.
Trọng tâm của người tu là phải làm sao đạt đến chỗ cứu kính Niết-bàn an lạc. Chúng ta tu thì nhất định phải đạt được mục đích cao đẹp ấy. Cho nên Tăng Ni phải cố gắng nỗ lực đi đến đích, tu đến bao giờ thành Phật mới ưng. Không có lý do gì mình đã chọn con đường tốt đẹp, rồi lại lo chuyện bâng quơ không đáng để phí hết thời giờ. Như người đang đi trên con đường dẫn đến một kinh đô tốt đẹp họ hằng mơ ước. Kinh đô ở cuối đường, người ấy lại dừng bước bên đường, lo bắt bướm hái hoa, rồi ngủ nghỉ dưới bóng mát cây cao qua ngày qua tháng, quên cả mục đích mình nhắm tới. Cho đến một ngày vô thường không cho phép đi được nữa, khi ấy có hối tiếc cũng đã muộn.
Sơ tổ Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, ông vua Phật Việt Nam nói về xuân:Lúc còn thiếu niên ở ngôi vị sang cả của một ông hoàng, chưa thấm nhuần mùi đạo lý, mỗi lần Xuân về trăm hoa đua nở trong vườn ngự, làm sao ngài không vui mắt trước những màu sắc lung linh, không bâng khuâng qua những làn hương ngào ngạt. Sắc hương hương sắc quyện cả tâm hồn của ông hoàng trẻ tuổi. Thế rồi bao nhiêu tâm sự đều gởi gắm vào trăm hoa.
Nhưng khi tìm thấy được đạo, cởi bỏ mọi danh vọng tài sắc ở thế gian, cạo tóc mặc áo nhuộm, ngài bước chân vào cửa thiền. Gia công tu tập, ngài đã khám phá được chân lý của vũ trụ, thấy được mặt thật xưa nay của chính mình. Bây giờ ngài không còn bị sắc hương lôi cuốn, tâm hồn lóng trong tự tại, ngồi lặng lẽ trên giường thiền nhìn chúng nở tàn một cách an nhiên. Từ đây hoa nở hoa tàn không còn là một hình ảnh khiến tâm hồn người Tăng sĩ phải vui buồn theo nó.
Dòng thời gian cuồn cuộn trôi, mọi hiện tượng trong không gian luôn luôn chuyển mình sanh diệt, song dưới con mắt một thiền sư đạt đạo vẫn thấy có một cái gì hiện hữu thoát ngoài luật sanh diệt của thời gian. Đó chính là chân tâm, là cái chân thật bất sanh bất diệt mà lâu nay chúng ta đã lãng quên. Giờ đây, mình phải quả quyết sống lại với nó, không một phút giây nào lơi lỏng. Ấy là chúng ta đặt chân trên con đường giải thoát, cởi bỏ sợi dây sanh tử luân hồi.
Tăng Ni hãy nỗ lực tiến trên con đường mình đã chọn, con đường tu tập để được giác ngộ giải thoát. Làm sao một đời này nếu chúng ta chưa đến tận đích, ít ra cũng đi được nửa phần hoặc hai phần đường. Qua một đêm ngủ chúng ta lại tiếp tục đi nữa, chớ không chần chờ để mất hết thì giờ, phải chịu đau khổ như bao nhiêu người không đủ phước duyên như chúng ta.
Tôi mong sang năm mới này, tất cả Tăng Ni cũng như toàn thể Phật tử, đồng nắm tay nhau tiến mãi, đừng lùi đừng nghỉ, tiến mãi trên con đường rộng lớn tươi đẹp an lành cho đến ngày đạt được mục đích giác ngộ, giải thoát mới thôi.
Video




⇅
Thiền Viện Đại Đăng, một trung tâm nghiên cứu và tu học của Hội Thiền Học Việt Nam thuộc hệ Phái Thiền Tông Phật Giáo, lần đầu tiên đã được chính thức thành lập tại Hoa Kỳ.Đây là một cơ sở thiền học trực thuộc dưới sự lãnh đạo và giáo hóa của Hòa Thượng Tông Chủ Thiền Sư Thích Thanh Từ. Ngài là một Thiền Sư đương đại, chủ trương khôi phục lại dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử do một vị Tổ sư danh tiếng và lỗi lạc sáng lập vào thế kỷ thứ 13, của Thiền Học Phật Giáo Việt Nam tức Vua Trần Nhân Tông sau khi nhường ngôi đi tu đắc đạo, lấy danh hiệu là Trúc Lâm Đại Đầu Đà, sau khi viên tịch Triều đình bấy giờ dâng tôn hiệu là Đại Thánh Trần Triều Trúc Lâm Đầu Đà Tĩnh Tuệ Giác Hoàng Điều Ngự Tổ Phật.Hòa Thượng cũng là Viện Chủ lãnh đạo và điều hành hơn mười ngôi Thiền Viện: Chơn Không, Thường Chiếu, Linh Chiếu, Viên Chiếu, Huệ Chiếu, Phổ Chiếu, Chơn Chiếu, Tịch Chiếu, Trúc Lâm Yên Tử, Trúc Lâm Tây Thiên, Trúc Lâm Sùng Phúc, Trúc Lâm Bạch Mã….,
Ngoài ra còn có một số các Tu Viện, Thiền Thất, Đạo Tràng khắp nơi trong nước. Môn đồ pháp quyến Xuất gia tu học theo Ngài có cả hàng ngàn Tăng, Ni và hàng vạn Phật tử trong nước và các nơi trên thế giới như: Mỹ, Pháp, Úc, Canada, Thụy Sĩ. … Riêng tại Mỹ quốc, số Phật tử quy y và tu học theo pháp môn tu thiền của Hòa Thượng Thanh Từ rất đông, nhưng thiếu nơi sinh hoạt thuận tiện cho số đông người, và thiếu người trực tiếp hướng dẫn tu học. Do đó một số Phật tử có tâm đạo nhiệt thành và lòng thiết tha tu học, đã hợp tác cùng nhau đứng ra vận động thành lập Ban Sáng Lập Thiền Viện. Sau khi đề đạt và thưa thỉnh ý kiến đệ trình lên Hòa Thượng đã được Ngài hoan hỉ chấp thuận. Ngài chỉ định một số Phât tử có khả năng hoàn thành tốt Phật sự đại diện thay mặt lãnh trách nhiệm như:Trưởng Ban Sáng Lập, kiêm Hội Phó Hội Thiền học Việt Nam (Hội Trưởng là Hòa Thượng) Hải Ngoại là Phật Tử Chánh Hiền Quang, Tổng thư ký là Phật Tử Quảng Khoái, Thủ bổn là Phật Tử Chân Bảo,v,v …
Hòa Thượng cũng chính thức chỉ định thầy Thông Giải làm Tri Sự. Ngày 15/04/2001 ủy Ban vận động thành lập Thiền Viện Đại Đăng mời Tăng Ni và Phật tử tham dự phiên họp đầu tiên để thông báo chương trình, đề ra kế hoạch thành lập Thiền Viện, đã được mọi người hoan hỷ tán thành và nhiệt tình đóng góp tài lực, kẻ công người của để hỗ trợ cho Thiền Viện sớm hoàn thành. Từ khi lãnh trách nhiệm, các Phật tử chọn đất tìm nơi địa điểm thích hợp, trải qua không đầy mười tháng, Một ngôi Thiền Viện khang trang, đẹp đẽ đã xuất hiện trên một ngọn đồi tọa lạc tại số 6326 Camino Del Rey, tại thành phố Bonsall ở vùng San Diego thuộc miền nam tiểu Bang California 92003, USA. Thiền Viện Đại Đăng được xây dựng trên một sườn đồi với diện tích chín mẫu tây, đây là một nơi yên tĩnh, ít tiếng ồn, xa nhà dân cư, xung quanh có đồi núi và rừng cây bao bọc, bên dưới chân đồi hướng về phía trước Thiền Viện có hồ nước trong xanh, Sáng sớm và chiều có sương mờ lãng đãng, phong cảnh thoáng mát, trông rất đẹp mắt, nên thơ và thiền vị. Khí hậu lại mát mẽ ôn hòa, mùa hè không nóng bức, mùa đông không lạnh lắm.Du khách đến nơi đây rất ưa thích.
Sau khi thành lập xong Thiền Viện, các phật tử cung thỉnh Hòa Thượng từ Việt Nam sang Hoa Kỳ để làm lễ Khánh Thành, và đồng thời các Phật tử cũng xin Hòa Thượng bổ nhiệm Chư Tăng ở Thiền Viện Trúc Lâm sang Trụ Trì. Đáp ứng sự thỉnh cầu của Tăng Ni và Phật tử hải ngoại, Hòa Thượng sang Mỹ ngày 04/09/2001. Đến ngày 15/09/2001 lễ Khánh Thành Thiền Viện Đại Đăng đã được tổ chức trọng thể, có khoảng 800 người tham dự. Ngày 16/09/2001 ban sáng lập Thiền Viện làm lễ dâng hiến cơ sở Đại Đăng lên Hòa Thượng, và chuyển giao toàn bộ thủ tục hành chánh, quyền quản lý sang Chư Tăng chịu trách nhiệm lãnh đạo, điều hành mọi sinh hoạt Thiền Viện. Các Phật tử xin giải thể các chức vụ đã được giao, và nguyện chỉ là người Phật tử bình thường luôn ở bên cạnh để hỗ trợ các Phật sự cần thiết cho Thiền Viện.Đây là một tâm nguyện rất cao thượng và hiếm có của các phật tử nơi đây. Sự kiện nầy chứng tỏ rằng, các Phật tử là người đã lãnh hội Phật Pháp rất sâu sắc và chính chắn, việc làm vì bổn phận phải làm của một cư sĩ tại gia hộ trì Tam Bảo, muốn cho Chánh Pháp được truyền bá rộng rãi lâu dài, chứ không vì danh, vì lợi, quyền thế riêng tư, mà vì ích lợi chung cho chúng sanh và Đạo Pháp. Tất cả mọi người đều tri ân và hết lòng tán thán ca ngợi việc làm vô ngã vị tha đó. Vừa khánh thành xong, Thiền Viện đã có Tăng đoàn trên mười người.
Hòa Thượng Viện Trưởng phân công thầy Tuệ Giác làm Trụ Trì, thầy Tuệ Tĩnh làm Phó Trụ Trì kiêm Thủ Bổn, Thầy Thông Giải làm Thư Ký kiêm Tri Sự. Ngoài ra còn có các vị Hương Đăng, Tri Khách, Tri Khố, Tri Viên, V.V…Đủ người để Hòa Thượng phân công sắp đặc Ban Điều Hành.Ngài cũng chính thức công bố cơ sở nầy là Tổ Đình của Thiền Tông Phật Giáo Việt Nam Hải Ngoại. Đây là nơi chuyên tu và đào tạo Tăng sĩ đồng thời cũng là nơi hướng dẫn phương pháp tu tập hành thiền cho các thiền sinh khắp nơi muôn về tu tập, không dành riêng cho người Việt mà chung cho tất cả người Tây Phương. Sau ngày khánh thành, Thiền Viện Đại Đăng đã chính thức đi vào hoạt động bình thường.Cho đến thời điểm hôm nay 2012, trải qua mười năm số Tăng thường trú đã lên tới 25 vị. Thời khóa tu học của Thiền Viện Đại Đăng lấy theo khuôn mẫu của Thiền Viện Trúc Lâm ở Đà Lạt làm tiêu chuẩn. Tăng đoàn ở đây, mọi sinh hoạt đều chấp hành nghiêm chỉnh theo Thanh Qui mà Hòa Thượng Tông Chủ đã vạch ra. Đặc biệt là tinh thần Lục Hòa được áp dụng triệt để.Đây là một Tăng đoàn hiếm có trên đất Mỹ hiện nay. Trong đây có những Thiền Sinh còn rất trẻ, đã tốt nghiệp xong chương trình đại học, cao học, có công ăn việc làm ổn định, đang trên đà danh vọng nhưng đã giác ngộ Phật Pháp, ý thức được sự vô thường của kiếp nhân sinh, từ bỏ hết sự nghiệp thế gian xuất gia học đạo, khép mình trong qui củ của Thiền Môn, sớm chiều lo miệt mài công phu phản tỉnh, thúc liễm thân tâm trau dồi đạo nghiệp.
Trong đây cũng có những vị trên dưới sáu mươi nhưng sự tu hành rất tinh tấn.Tất cả Tăng chúng đều sống chung trong tinh thần hòa hợp thương yêu, trợ duyên sách tấn cùng nhau tu tiến. Cuối tuần, hai ngày thứ bảy và chủ nhật là thời khóa tu thường lệ dành riêng cho Phật Tử do chư Tăng hướng dẫn. Ngoài ra nếu có Thiền Sinh nào muốn đến Thiền Viện tu tập dài hạn cũng được khuyến khích, giúp đở. Hiện nay số Phật Tử qui tụ về Thiền Viện mỗi ngày thêm đông bởi do pháp môn tu thiền của Hòa Thượng hội đủ ba tiêu chuẩn: Khế cơ, khế lý, khế thời, cho nên các Phật Tử dễ cảm thông và thực hành đạt được nhiều an lạc. Những người Tây Phương cũng bắt đầu hiểu biết, tiếp nhận Thiền học Phật Giáo qua hệ thống thông tin Internet và sách vở, các bài giảng của Hòa Thượng Tôn Sư đã được phiên dịch ra ngoại ngữ nên cũng tìm đến xin tu học. Vì vậy Thiền Viện Đại Đăng cũng mở thêm một lớp tu Tu học hành thiền cho nhóm Phật Tử người Mỹ vào chủ nhật mỗi tuần. Các Phật tử rất hài lòng mản nguyện và vô cùng hoan hỷ, nhận thấy rằng bao nhiêu công khó đóng góp tài lực của mình để hổ trợ cho Thiền Viện Đại Đăng được hình thành, là một việc làm giá trị có ý nghĩa chính đáng. Tăng đoàn đều là những người đang cố gắng phấn đấu vương lên, tu hành thanh tịnh mẫu mực, để xứng đáng cho các Phật tử đủ niềm tin trở về nương tựa và tu học.
☸ Thích Tâm Hạnh
⇅
Hòa thượng húy là Trần Hữu Phước, pháp danh Thích Thanh Từ, sau đổi lại húy là Trần Thanh Từ. Sinh ngày 24 tháng 07 năm Giáp Tý (1924), tại ấp Tích Khánh, làng Tích Thiện, tỉnh Cần Thơ (nay là tỉnh Vĩnh Long).
Thân phụ của Hòa thượng húy Trần Văn Mão, từ nhỏ theo nghiệp Nho, giữ nếp sống thanh bần. Cụ ông theo đạo Cao đài, lập gia đình hơi muộn. Thân mẫu của Hòa thượng húy Nguyễn Thị Đủ quê làng Thiện Mỹ, dòng Thanh Bạch, quận Trà Ôn, tỉnh Cần Thơ. Cụ bà chân chất hiền lành, suốt đời tận tụy hy sinh vì chồng vì con.
Hòa thượng sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh khó khăn nghèo túng, nhưng Người đã nổi bật những nét riêng từ thuở ấu thơ: trầm mặc, ít nói, thích đọc sách, có chí xuất trần và đặc biệt rất hiếu thảo với Cha Mẹ.
Khoảng năm 9 tuổi, nhân theo Cụ ông lên Mốp Văn, Long Xuyên thọ tang người Bác thứ ba, Hòa thượng được đến chùa Sân Tiên trên núi Ba Thê cúng cầu siêu cho Bác. Duyên xưa gặp lại, nghe tiếng chuông chùa ngân dài giữa khoảng thinh không cô tịch, Hòa thượng rúng động như có một nỗi niềm giao cảm tự bao giờ. Bất thần Người xuất khẩu thành thơ:Non đảnh là nơi thú lắm ai, Đó cảnh nhàn du của khách tài, Tiếng mõ công phu người tỉnh giấc, Chuông hồi văng vẳng quá bi ai! Có thể nói rằng chí xuất trần của Hòa thượng nổi dậy kể từ đây.
Sớm chìm nổi theo dòng đời và nhất là sống trong thời loạn lạc, Hòa thượng càng thấm thía, càng đau xót nỗi thống khổ của con người. Chí xuất trần của Hòa thượng vì thế càng trở nên mãnh liệt hơn và Người luôn ôm ấp một tâm niệm “ Nếu tôi không thể làm một viên linh đơn cứu tất cả bệnh của chúng sanh, ít ra cũng là một viên thuốc bổ giúp cho người bớt khổ.” Từ dạo đó trái nhân duyên đã chín muồi, cuộc đời của Hòa thượng rẽ sang một con đường sáng.
Ngày 15 tháng 07 năm Kỷ Sửu 1949, sau ba tháng công quả tại chùa Phật Quang, Hòa thượng được Tổ Thiện Hoa chánh thức cho xuất gia với pháp danh là Thanh Từ. Thế là ước nguyện của Người đã được thành tựu. Từ đây Hòa thượng siêng năng theo Tổ công phu bái sám, vừa học giáo lý, vừa dạy trẻ em. Ngoài ra còn phụ trông nom coi sóc mấy chục chú Tiểu trong chùa. Công việc tuy nhiều, song Hòa thượng luôn để tâm học Giáo điển.
Năm 1949 -1950, Hòa thượng theo học lớp Sơ đẳng năm thứ ba tại Phật Học Đường Phật Quang. Đến năm 1951, Hòa thượng bắt đầu học lên Trung đẳng.
Một khuya nọ, nhân đọc Kinh Lăng Nghiêm đến chỗ Phật chỉ Tôn giả A Nan nhận ra bản tâm chân thật của chính mình qua tánh thấy, tánh nghe, bất giác Hòa thượng xúc động rơi lệ. Phải chăng đây là dấu hiệu cho biết chủng duyên Phật Pháp nhiều đời của Người đã bắt đầu nẩy mầm?
Cũng trong năm nầy chùa Phật Quang bị binh biến, Tổ Thiện Hoa phải dời Tăng chúng lên chùa Phước Hậu, Hòa thượng cũng được theo và thọ giới Sa Di tại đây do Tổ Khánh Anh làm Hòa thượng Đàn đầu.
Năm 1953 Hòa thượng theo Bổn sư là Tổ Thiện Hoa lên Sài gòn, tiếp tục học lớp Trung đẳng tại Phật Học Đường Nam Việt chùa Ấn Quang. Tại đây, Hòa thượng được thọ giới Cụ túc do Tổ Huệ Quang làm Hòa thượng Đàn đầu.
Từ năm 1954 -1959, Hòa thượng học Cao đẳng Phật học tại Phật Học Đường Nam Việt. Những vị đồng khóa cùng ra trường với Hòa thượng như quí Huyền Vi, Thiền Định, Từ Thông, …
Như vậy là ngót mười năm Hòa thượng đã trải qua hai năm Sơ đẳng, ba năm Trung đẳng, bốn năm Cao đẳng. Tốt nghiệp các lớp Phật học xong là đoạn đường Tăng sinh đã hoàn tất. Hòa thượng bước sang thời kỳ hóa đạo. Hòa thượng là một vị Giảng sư trong Giảng sư đoàn của ban Hoằng Pháp, có uy tín lớn thời bấy giờ và được sự mến mộ của Phật tử xa gần.
☸ Năm 1960 -1964, Hòa thượng đã giữ những chức vụ trong Phật giáo:
• Phó Vụ Trưởng Phật Học Vụ.Sau lễ mãn khóa Cao Trung Chuyên Khoa tại Huệ Nghiêm và Dược Sư, Hòa thượng thầm nghĩ với ngần ấy đóng góp cũng phần nào tạm đủ nói lên tấm lòng tri ân và báo ân của mình đối với Thầy Tổ rồi. Hòa thượng liền xin phép với Tổ Thiện Hoa được lui về núi ẩn tu. Chí đã quyết, Hòa thượng dằn lòng dứt áo ra đi, âm thầm một mình một bóng lên chốn non thâm.
Hòa thượng đã thật sự giã từ Phật Học Viện, giã từ phấn bảng với năm tháng miệt mài vì tứ chúng. Nhưng hai tiếng “Tăng Ni” vẫn xoáy sâu vào lòng Người, để sau này chút duyên “Thầy Trò” ấy lại gặp nhau và càng thêm son sắt trên đỉnh Tương Kỳ.
Tháng 04 năm 1966, Hòa thượng dựng Pháp Lạc Thất trên núi Tương Kỳ, Vũng Tàu. Ngôi thất lá vuông vức bốn thước đơn sơ với bộ Đại Tạng Kinh, nhưng đã ấp ủ một thiền Tăng nghèo quyết nhận lại cho kỳ được hạt châu vô giá của chính mình.
Đến rằm tháng tư năm Mậu Thân, Hòa thượng tuyên bố nhập thất vô hạn định với lời kiên quyết: ” Nếu đạo không sáng, thệ không ra thất.” Thế là cửa sài đôi cánh khép. Toàn thể môn nhân qui ngưỡng lên non một lòng mong đợi.
Tháng 07 năm 1968, Hòa thượng liễu đạt lý sắc không, thấu suốt thật tướng Bát Nhã. Từ con mắt Bát Nhã trông qua tạng Kinh, lời Phật, ý Tổ hoác toang thông thống. Giáo lý Đại thừa và thâm ý nhà Thiền đã được Hòa thượng khám phá từ công phu thiền định của Người.
Ngày 08 tháng 12 năm ấy, Hòa thượng tuyên bố ra thất giữa bao niềm hân hoan của Tăng Ni, Phật tử. Nước cam lồ từ đây rưới khắp, suối từ bi từ đây tuôn chảy. Pháp Lạc Thất thật xứng đáng là linh hồn của dòng Thiền Chân Không. Nơi đây, đánh dấu một giai đoạn chuyển mình, một bước ngoặc lớn trong cuộc đời tu của Hòa thượng. Hoài bão tu Thiền đã thai nghén bao năm trong thầm lặng đơn độc của Người, đến đây mới thật sự có điểm khởi phát và lớn dậy, để sau nầy Phật giáo Việt Nam vinh dự có một ngôi sao sáng mở ra trang Thiền sử Việt Nam rực rỡ huy hoàng vào cuối thế kỷ 20.
Hòa thượng đã từng nói: “Tôi là kẻ nợ của Tăng Ni và Phật tử. Ai biết đòi thì tôi trả trước, ai chưa biết đòi thì trả sau.” Suốt đời Ngài đều dốc hết sức mình lo cho Phật pháp, đặc biệt là làm sống lại Thiền tông đời Trần, tạo điều kiện cho Tăng Ni tu hành tiến bộ. Tăng Ni tu hành có tiến bộ thì Phật pháp mới còn và lớn mạnh được. Sự tu hành tiến bộ của Tăng Ni là niềm vui của Ngài. Ngài nói: “Hoài bão của Thầy đều gởi gắm hết vào sự nỗ lực tu tập của tụi con. Tăng Ni tu có niềm vui, sáng được việc lớn, đó là biết thương tưởng đến Thầy. Bằng ngược lại thì thật là Thầy chưa đủ phước để được vui trước khi nhắm mắt. Bởi vì nguyện vọng khôi phục Thiền tông Việt Nam, đặc biệt là Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đời Trần của Thầy chưa thành tựu.”
☸ Hòa Thượng hiện là
• 1993 - Thiền viện Trúc Lâm, Đà Lạt – Lâm Đồng, thành lập tháng 04 năm 1993.
![]() HT Ân Sư ☸ Thích Thanh Từ |
![]() HT Thích Nhật Quang |
![]() TT Thích Tuệ Giác ☸ 1960-2021 |
|---|